
Không nên chọn IΔn theo nguyên tắc “càng nhỏ càng an toàn”. Độ nhạy cao hơn giúp phát hiện dòng rò nhỏ hơn nhưng cũng làm giảm khoảng dự phòng đối với dòng rò bình thường của dây dẫn và thiết bị điện tử. Vì vậy, lựa chọn đúng phải cân bằng giữa mức bảo vệ cần đạt và khả năng vận hành ổn định của mạch.
Với phần lớn mạch điện dân dụng cần bảo vệ bổ sung chống điện giật, RCBO 30 mA là lựa chọn phổ biến nhất. Mức này tạo độ nhạy đủ cao để ngắt nguồn khi xuất hiện dòng dư nguy hiểm nhưng vẫn cho phép hệ thống có một khoảng nhất định đối với dòng rò tự nhiên.
Có thể định hướng lựa chọn như sau:
|
IΔn của RCBO |
Mục đích sử dụng điển hình |
Điểm cần lưu ý |
|
10 mA |
Bảo vệ nhạy hơn cho một số mạch hoặc thiết bị riêng |
Dễ tác động không mong muốn nếu tải có dòng rò nền đáng kể |
|
30 mA |
Bảo vệ bổ sung chống điện giật cho mạch cuối |
Mức phổ biến cho ổ cắm, thiết bị cầm tay và nhiều mạch sinh hoạt |
|
100 mA |
Bảo vệ chạm đất hoặc cấp bảo vệ phía trên trong một số hệ thống |
Không thay thế 30 mA tại nơi yêu cầu bảo vệ bổ sung cho con người |
|
300 mA |
Bảo vệ ở cấp phân phối, phối hợp chọn lọc hoặc giảm nguy cơ do dòng rò lớn khi thiết kế cho phép |
Không phải mức bảo vệ bổ sung chống tiếp xúc điện trực tiếp |
Do đó, với một mạch ổ cắm hoặc mạch thiết bị sinh hoạt thông thường, điểm xuất phát hợp lý thường là 30 mA. Chỉ chuyển sang 10 mA khi thực sự cần độ nhạy cao hơn và kiểm soát được dòng rò nền. Ngược lại, không nên tăng lên 100 hoặc 300 mA chỉ để chữa tình trạng RCBO 30 mA thường xuyên nhảy.

RCBO không đo dòng chạy qua tải theo cách chức năng quá dòng thực hiện. Phần bảo vệ dòng dư so sánh tổng dòng đi qua các dây dẫn mang điện của mạch. Trong điều kiện bình thường, dòng đi ra và dòng trở về cân bằng. Khi một phần dòng điện đi sang đất qua cách điện hỏng, vỏ thiết bị hoặc một đường dẫn khác, xuất hiện dòng dư và RCBO có thể ngắt mạch.
IΔn không có nghĩa thiết bị luôn chờ đến đúng con số ghi trên nhãn mới tác động. Với đặc tính của thiết bị bảo vệ dòng dư tiêu chuẩn, thiết bị không được tác động ở mức bằng hoặc thấp hơn khoảng 0,5 × IΔn, nhưng có thể tác động khi dòng dư nằm giữa 0,5 × IΔn và IΔn và phải đáp ứng yêu cầu tác động tại ngưỡng quy định.
Điều này có ý nghĩa thực tế rất lớn. Một RCBO 30 mA có vùng tác động thực tế bắt đầu từ khoảng 15 mA và phải tác động khi đạt điều kiện tương ứng với IΔn. Vì vậy, 30 mA vừa là thông số bảo vệ vừa xác định khoảng dòng rò bình thường mà mạch có thể dung nạp trước khi nguy cơ ngắt không mong muốn tăng cao.
Mức IΔn không phải biện pháp bảo vệ duy nhất. RCBO 30 mA là lớp bảo vệ bổ sung, không thay thế nối đất bảo vệ, cách điện, liên kết đẳng thế và các biện pháp chống điện giật khác của hệ thống.
RCBO 10 mA có thể được dùng cho một mạch riêng khi yêu cầu bảo vệ nhạy hơn và số lượng tải phía sau thiết bị ít. Vì IΔn chỉ bằng một phần ba so với loại 30 mA, khoảng dự phòng cho dòng rò tự nhiên cũng nhỏ hơn đáng kể.
Với IΔn = 10 mA, dòng dư chỉ cần vượt khoảng 5 mA là thiết bị đã bước vào vùng có khả năng tác động. Nếu một RCBO 10 mA bảo vệ nhiều thiết bị điện tử cùng lúc, tổng dòng rò từ bộ lọc EMC, nguồn xung và điện dung của dây dẫn có thể khiến mạch mất ổn định dù không tồn tại lỗi cách điện nghiêm trọng.
Vì thế, 10 mA phù hợp hơn với mạch chuyên dụng có phạm vi tải rõ ràng thay vì dùng như mức mặc định cho toàn bộ hệ thống.
Mức 100 mA cho phép dòng dư lớn hơn trước khi tác động. Nó có thể phù hợp với một số yêu cầu bảo vệ chạm đất, bảo vệ ở cấp phân phối hoặc phối hợp giữa nhiều tầng thiết bị bảo vệ dòng dư.
Tuy nhiên, 100 mA không nên được xem là cách thay thế 30 mA khi một mạch cuối cần bảo vệ bổ sung cho con người. Việc nâng IΔn từ 30 lên 100 mA chỉ vì RCBO thường xuyên nhảy có thể che đi nguyên nhân thực sự như thiết bị bị rò, dây dẫn suy giảm cách điện hoặc quá nhiều tải có dòng rò bình thường cùng nằm trên một mạch.
Mức 300 mA thường gắn với cấp bảo vệ tổng hoặc phân phối hơn là bảo vệ bổ sung cho người sử dụng. Trong một số ứng dụng, thiết bị dòng dư ở mức này được dùng để xử lý sự cố chạm đất, hỗ trợ giảm nguy cơ cháy do dòng rò hoặc phối hợp chọn lọc với thiết bị 30 mA ở phía tải.
Trong hệ thống nối đất TT, việc lựa chọn độ nhạy cho chức năng tự động cắt nguồn còn liên quan trực tiếp tới điện trở nối đất. Một quan hệ thiết kế cơ bản là:
RA × IΔn ≤ UL
Trong đó RA là điện trở của hệ thống nối đất phía thiết bị sử dụng và UL là điện áp tiếp xúc giới hạn, thường lấy 50 V trong điều kiện thông thường. Vì vậy, không thể chỉ nhìn vào con số 100 hay 300 mA mà bỏ qua hệ thống nối đất và yêu cầu cắt tự động của công trình.
Điểm quan trọng là 30 mA, 100 mA và 300 mA phục vụ các lớp bảo vệ khác nhau. Một RCBO 300 mA ở phía trên không loại bỏ nhu cầu sử dụng thiết bị ≤30 mA ở mạch cuối nếu mạch đó thuộc trường hợp cần bảo vệ bổ sung chống điện giật.
Một mạch không cần bị hỏng mới có dòng điện đi về đất. Bộ lọc chống nhiễu của máy tính, biến tần, bộ nguồn điện tử, thiết bị gia dụng và điện dung tự nhiên giữa dây dẫn với đất đều có thể tạo ra dòng rò trong vận hành bình thường.
Khi nhiều thiết bị cùng nằm sau một RCBO, các thành phần này cộng lại. Vì thiết bị bảo vệ có thể bắt đầu tác động khi dòng dư vượt khoảng 0,5 × IΔn, việc để dòng rò bình thường tiến quá gần vùng này làm khả năng mất điện ngoài ý muốn tăng lên.
Trong thực hành thiết kế, có thể dùng khoảng một phần ba IΔn làm mức tham chiếu thận trọng cho dòng rò thường trực của tải:
· RCBO 10 mA: Nên giữ dòng rò vận hành ở khoảng 3 mA hoặc thấp hơn
· RCBO 30 mA: Nên hướng tới khoảng 10 mA hoặc thấp hơn
· RCBO 100 mA: Khoảng dự phòng vận hành lớn hơn nhưng không vì vậy mà được bỏ qua lỗi cách điện
· RCBO 300 mA: Cần đánh giá theo cấp phân phối, tổng dòng rò phía tải và yêu cầu phối hợp bảo vệ
Mốc một phần ba không phải ngưỡng tác động của RCBO mà là khoảng dự phòng thiết kế. Khi dòng rò thường trực đã cao, giải pháp đúng thường là đo dòng rò, tìm tải gây rò hoặc chia nhỏ mạch, thay vì đơn thuần chọn RCBO có IΔn cao hơn.
Ví dụ, một mạch có nhiều máy tính, bộ nguồn chuyển mạch và thiết bị có bộ lọc EMC có thể hoạt động bình thường nhưng tổng dòng rò đã gần 15 mA. Đặt tất cả chúng sau một RCBO 30 mA khiến hệ thống tiến sát vùng thiết bị có thể tác động. Chia tải thành hai mạch 30 mA riêng thường giữ được mức bảo vệ con người tốt hơn so với nâng toàn bộ mạch lên RCBO 100 mA.
Không nhất thiết toàn bộ các nhánh điện phải dùng chung một RCBO hoặc cùng một phương án phân nhóm. Với RCBO bảo vệ từng mạch cuối, lỗi dòng rò ở một nhánh chỉ cắt nhánh đó, đồng thời tổng dòng rò tự nhiên không bị cộng dồn trên quá nhiều tải.
Một định hướng thực tế có thể áp dụng như sau:
|
Nhóm mạch |
Độ nhạy thường được cân nhắc |
Lý do |
|
Ổ cắm sinh hoạt |
30 mA |
Cần mức bảo vệ bổ sung chống điện giật |
|
Thiết bị sử dụng ngoài trời |
30 mA |
Nguy cơ tiếp xúc với đất, ẩm và hư hỏng cơ học cao hơn |
|
Mạch trong khu vực có nguy cơ tiếp xúc điện cao |
30 mA hoặc mức thấp hơn nếu thiết kế yêu cầu |
Ưu tiên bảo vệ con người |
|
Mạch riêng cần độ nhạy đặc biệt cao |
10 mA |
Có thể tăng mức nhạy nếu dòng rò nền đủ thấp |
|
Mạch có nhiều tải điện tử |
30 mA nhưng nên chia thành nhiều nhánh |
Giảm tổng dòng rò phía sau mỗi RCBO |
|
Cấp tổng hoặc phân phối |
100–300 mA trong thiết kế phù hợp |
Tạo cấp bảo vệ chạm đất hoặc phối hợp với thiết bị phía dưới |
Các giá trị trên là logic lựa chọn theo chức năng, không phải bảng thay thế cho thiết kế điện của từng công trình. Yêu cầu của hệ thống nối đất, đặc điểm tải, môi trường, quy định áp dụng và khả năng phối hợp giữa các thiết bị vẫn phải được kiểm tra.
Nếu có nhiều RCBO/RCD mắc theo cấp, chỉ tăng IΔn của thiết bị phía trên chưa chắc tạo được chọn lọc hoàn toàn. Phối hợp dòng dư còn có thể liên quan tới đặc tính thời gian tác động. Mục tiêu là khi một nhánh có lỗi, thiết bị gần điểm lỗi nhất ngắt trước để hạn chế mất điện trên các phần không bị sự cố.
Lỗi đầu tiên là nhầm dòng định mức In với độ nhạy IΔn. RCBO 20 A/30 mA không có nghĩa thiết bị cho phép dòng rò 20 A. Hai con số phục vụ hai chức năng hoàn toàn khác nhau: 20 A thuộc phần bảo vệ quá dòng, còn 30 mA thuộc phần bảo vệ dòng dư.
Lỗi thứ hai là cho rằng 10 mA luôn an toàn hơn 30 mA nên có thể dùng cho mọi mạch. Độ nhạy cao có lợi khi đúng mục đích, nhưng nếu dòng rò bình thường của mạch đã vài miliampe thì biên vận hành của RCBO 10 mA rất nhỏ. Hậu quả có thể là ngắt điện thường xuyên mà không làm hệ thống bảo vệ tốt hơn một cách thực tế.
Lỗi thứ ba là đổi từ 30 mA lên 100 hoặc 300 mA để tránh nhảy RCBO. Trước khi thay độ nhạy, cần xác định RCBO đang tác động do lỗi thật, dòng rò cộng dồn hay một thiết bị cụ thể. Tăng ngưỡng mà không xử lý nguyên nhân có thể làm mất cấp bảo vệ bổ sung mà mạch cần.
Lỗi thứ tư là coi IΔn là thông số duy nhất cần chọn. Ngoài độ nhạy, RCBO còn phải phù hợp về dòng định mức, đặc tính tác động quá dòng, khả năng cắt, số cực và đặc tính nhận biết dạng dòng dư. Việc lựa chọn loại AC, A, F hoặc B là một bài toán khác với lựa chọn 10, 30, 100 hay 300 mA; không nên dùng một thông số để thay thế cho thông số còn lại.
Cuối cùng, không nên chọn độ nhạy chỉ dựa vào tên thiết bị điện. Cùng một nhóm tải nhưng số lượng thiết bị, chiều dài cáp, bộ lọc điện tử và tình trạng cách điện khác nhau có thể tạo tổng dòng rò rất khác nhau. Với mạch đã vận hành, đo dòng rò thực tế là cơ sở đáng tin cậy hơn việc tăng IΔn theo phỏng đoán.
Đối với đa số mạch cuối cần bảo vệ bổ sung chống điện giật, 30 mA là mức nên được xem xét đầu tiên khi chọn dòng rò RCBO. Mức 10 mA phù hợp khi cần độ nhạy cao hơn trên một mạch riêng có dòng rò nền thấp; 100 mA và 300 mA thuộc những mục tiêu bảo vệ hoặc cấp phối hợp khác và không nên dùng để thay thế tùy tiện cho 30 mA.
Cách chọn đúng là xác định mục tiêu bảo vệ trước, sau đó kiểm tra dòng rò bình thường, hệ thống nối đất và vị trí RCBO trong sơ đồ phân phối. Nếu RCBO 30 mA thường xuyên tác động, cần tìm nguyên nhân hoặc chia mạch trước khi nghĩ đến việc tăng độ nhạy định mức. Với các mạch liên quan trực tiếp đến an toàn điện, việc đo kiểm và xác nhận thiết kế nên do người có chuyên môn thực hiện.